Zircon là gì? Tất tần tật thông tin về Zircon

Zircon là gì? Tất tần tật thông tin về Zircon

Khái quát chung

Zircon được biết đến như những khoáng vật quý được sử dụng trên các đồ trang sức với nhiều màu sắc khác nhau, từ không màu tới màu vàng đỏ, da cam và nâu, lục lâu, lục sáng tời màu xanh da trời. Loại không màu; nâu vàng (vàng rơm) và xanh da trời là loại mới chỉ nói gần đây. Đó là những màu do xử lý nhiệt của zircon. Cùng với ánh kim cương nó có tầm quan trọng đáng kể trong ngành trang sức

Tên gọi zircon được bắt nguồn từ các từ biệt ngữ theo tiếng Ả Rập có nghĩa là màu đỏ son. Và tiếng Iran là màu vàng. Cho đến nay zircon  được biết đến nhiều tên khác nhau như “zargoon”  hoặc “cerkonier”; tên đầu được bắt nguồn từ chữ gaicon tiếng Italia, có lẽ là biến tướng của biệt ngữ.

Tên gọi zircon được bắt nguồn từ các từ biệt ngữ theo tiếng Ả Rập
Tên gọi zircon được bắt nguồn từ các từ biệt ngữ theo tiếng Ả Rập

Thành phần hóa học và cấu trúc tinh thể

Thành phần hóa học 

Thành phần hóa học của zircon là silicat (ZrSO4) thường xuyên có một ít Fe trong thành phần dưới dạng tạp chất và thay thế cho một phần Zr với hàm lượng thay đổi khoảng 0,5 – 4% .

Đôi khi chứa Al2O3 bao giờ cũng chứa hafini (HFO2) cuối cùng, thành phần zircon rất giàu chất phóng xạ thorium và uranium.

Cấu trúc tinh thể

Zircon kết tinh trong hệ tứ phương, dạng đối xứng lưỡng tháp tứ phương. Hình dạng tinh thể thường là do sự kết hợp của lăng trụ vuông với tháp vuông ở hai đầu hoặc kết hợp với những lăng trụ có độ nghiêng khác nhau ở hai đầu. Nếu phần lăng trụ nhỏ có thể dễ nhầm với hình 8 mặt.

Các tính chất vật lý và quang học

Các tính chất vật lý

– Độ cứng thay đổi từ 7 tới 7,5 theo độ cứng Mohs và không đồng nhất trong toàn viên đá, yếu tố này gây khó khăn cho việc đánh bóng.

– Cát khai không đáng kể hoặc rất không hoàn toàn.

– Vết vỡ dạng vỏ sò tương đối giòn.

– Tỷ trọng của zircon có sự thay đổi đặc biệt, do trên thực tế không chỉ có một loại zircon mà là hai loại: zircon cao và zircon thấp; có nhiều tài liệu nói đến 3 loại, những loại trung gian thực ra cũng cùng một pha biến đổi với một trong hai loại kia.

+ Loại zircon cao được kết tinh đầy đủ và có tỉ trọng thay đổi từ 4,67 tới 4,70.

+ Loại zircon thứ hai gọi là loại cấp thấp có tỷ trọng khoảng 4,0 (3,95-4,1) nó là kết quả từ những đá có nguồn gốc từ loại cao trong đó cấu trúc mạng tinh thể bị phá vỡ ,vì vậy chúng chứa ít nhiều silic và zircon dạng vô định hình.

Zircon có nhiều tỷ trọng trong khoảng của loại cao và loại thấp
Zircon có nhiều tỷ trọng trong khoảng của loại cao và loại thấp

Sự phá vỡ cấu trúc mạng này do hiện tượng phá hủy của các hạt X (hạt nhân của nguyên tố He) do các nguyên tố phóng xạ trong zircon. Đó có thể do uranium hoặc thorinium, chúng có dấu vết như nhau trong zircon. Chúng ta hiểu rằng sự phá vỡ mạng tinh thể zircon diễn ra không phải ngay lập tức, do vậy những viên zircon loại này là sản phẩm phân hủy không hoàn toàn, chỉ một phần hoàn toàn phân hủy hoặc mới chỉ bắt đầu bằng phân hủy.

Do vậy, zircon có nhiều tỷ trọng trong khoảng của loại cao và loại thấp. Những đã bị phân hủy một phần này có thể gọi là loại chuyển tiếp.

 Các tính chất quang học

– Chiết suất: Giá trị chiết suất của zircon thay đổi đáng kể loại “cao” có giá trị chiết suất 1,92 đối với tia thường và 1,98 đối với tia bất thường, lưỡng chiết xuất 0,059. Chiết suất và lưỡng chiết suất giảm dần từ loại “cao” đến loại thấp giảm tới giá trị chiết xuất 1,78. Những loại đặc biệt có tính đẳng hướng, có giá trị chiết suất đơn và chúng có độ cứng thấp (6,5).

– Tính đa sắc và độ tán sắc: Mặc dù zircon có khúc xạ kép rõ ràng, thông thường không thấy hiện tượng lưỡng sắc. Trừ loại màu xanh do xử lý nhiệt, nhưng đá này trên thực tế có lưỡng sắc mạnh; màu kép trong chúng là màu xanh da trời đậm theo phương bình thường và không màu theo phương bất thường.

– Phổ hấp thụ: Quang phổ được quan sát được ở zircon là những giải hẹp rất mạnh và những đường mịn từ đầu đến cuối quang phổ do phóng xạ uranium trong zircon có thể quan sát được.

Loại nâu phớt lục ở Buma biểu hiện quang phổ rất giàu, có thể thấy ở một viên đá hơn 40 vạch.

+ Loại zircon màu trắng và da cam từ Uran chỉ quan sát thấy vài dải.

+ Loại zircon đỏ của Pháp thường trống các dải.

+ Loại không màu, xanh da trời và vàng rơm đã xử lý nhiệt từ Đông Nam Á cho thấy quang phổ cực kỳ yếu. Thường chỉ thấy mỗi đường mạng là 635A° là có thể nhìn thấy.

Các dải quang phổ chính của zircon là: 6910, 6830, 6625, 6605, 6535 (mạnh nhất) 6210, 6150, 5895, 5375…4327 A°. Quang phổ của loại zircon “thấp”mà một phần vô định hình thì kém rõ ràng hơn, chỉ thấy một vạch ở dải sóng dài 6535 A°.

– Tính phát quang: zircon phát quang dưới đèn cực tím cả sóng dài và sóng ngắn rất khác nhau.

  •  Trên thực tế một số loại trơ và số khác phát quang rất mạnh. Màu phát quang thường là màu vàng có cường độ thay đổi.
  •  Dưới tác dụng của tia X Tính phát quang của zircon không những thay đổi về cường độ mà cả về màu sắc. Đa số các đá thấy màu hơi trắng hoặc xanh tím, nhưng vài loại khác thấy phớt lục hoặc lục sáng ảnh.  Những loại đá đã qua xử lý nhiệt dưới bức xạ của một số tia sau thời gian dài sẽ trở về màu nâu gốc (màu ban đầu)

Đặc điểm bao thể

Nhiều loại zircon đặc biệt là loại zircon thấp có màu sắc tự nhiên, có bao thể dạng “sương mù” (khi kiểm tra viên đá trông như khói).

Đặc điểm bao thể
Đặc điểm bao thể

Bao thể trong Zircon rất ít đặc trưng, trừ zircon thấp thường có các vạch đới màu thẳng gấp góc, nhưng không hoàn toàn giống như đới màu trong Saphia. Đôi khi zircon cho hiệu ứng mắt mèo.

Các phương pháp xử lý

Một điều thú vị là ảnh hưởng của nhiệt đới với các loại zircon khác nhau, đối với loại zircon “thấp”, loại “cao” và loại chuyển tiếp giữa chúng. Nếu nung đến 1450°C sẽ có xu hướng tăng tỷ trọng từ giá trị trung bình tới gần 4,7 cùng với giá trị chiết suất trung bình và tăng độ rõ của vạch quang phổ.

– Khi nung silic và Zn bị phân chia đã kết hợp lại như sự kết tinh zircon. Tổng lượng nhiệt cần thiết để đưa loại thấp quay về loại cao phụ thuộc hoàn toàn vào sự phân chia gốc.

Những loại zircon màu nâu, nâu phớt đỏ ở Đông Nam Á sau khi nung không thành màu, xanh da trời và màu vàng đều là những màu được ưa thích trên thị trường thế giới.

Nguồn gốc và phân bố

Zircon phân bố rộng rãi trên thế giới, thông thường nó là khoáng vật phụ của đá macma, nhưng loại đạt chất lượng ngọc thì được tìm thấy trong các vùng lân cận.

Một nguồn quan trọng nhất của Zircon là khu vực Đông Nam Á. Đó là các mỏ ở Sri – lanka, champasac (Lào – Campuchia) và pailin ( Campuchia). Ở Việt Nam có khu vực Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Thuận.

Phân biệt zircon với các đá tự nhiên và đá tổng hợp khác

Phân biệt với các đá tự nhiên

Trước hết do nó có chiết suất cao và ánh đặc biệt, một phần có ánh mỡ và ánh nhựa do vài phản ứng đặc biệt với quá trình đánh bóng, thêm vào đó màu sắc vừa phải rõ ràng thường làm có thể nhận ra ngay khi mới nhìn.

Phân biệt zircon với các đá tự nhiên và đá tổng hợp khác
Phân biệt zircon với các đá tự nhiên và đá tổng hợp khác

– Dùng kính lúp quan sát gần sẽ nhận thấy những vết vỡ vụn ở cạnh faxet và dấu hiệu khúc xạ kép của cạnh đáy khi nhìn qua kính lúc từ mặt trên mặt viên đá.

– Các đá tự nhiên có khúc kép có thể nhầm với zircion là sphen, sinhalit, casiterit và peridot, nhưng sphen có độ lưỡng chiết lớn gấp 2 lần, độ cứng và tỉ trọng thấp hơn zircon còn sinhalit và peridot có chiết suất thấp hơn. Ngoài ra loại dematoit màu lục có ánh sáng cao cũng có thể nhầm với zircon, tuy nhiên nó chỉ có chiết suất đơn.

Phân biệt với đá nhân tạo

CZ (cubic zircon – zircon lập phương): CZ là oxit zircon (ZrO2) được tổng hợp ở nhiệt độ cao với một lượng cân đối của oxit CaO hoặc Y2O3.

Tính chất của CZ biến đổi một chút tùy theo loại oxit được dùng:

+ Nếu chất ổn định là CaO thì nó có độ cứng là 8, tỉ trọng 5,65; chiết suất đơn 2,15 và độ tán sắc là 0,06.

+ Nếu chất ổn định là Y2O3 thì tỷ trọng là 5,95.

Như vậy dựa vào chiết suất đơn và tỉ trọng lớn hơn là phân biệt được. loại CZ không màu và tinh khiết là loại vật liệu thay thế kim cương có hiệu quả.

– Rutin tổng hợp: là loại đá giống với zircon nhưng có chiết suất cao hơn (2,62 – 2,9) có khúc xạ ghép lớn hơn mà mày tán sắc quá mức.

– Spinen tổng hợp màu xanh lam: Không có khúc xạ kép qua kính Chelsea có màu đỏ và phổ hấp thụ coban.

Chế tác

Thường được máy cắt kiểu brilliant có mặt faxét thứ 2 ở phần đáy
Thường được máy cắt kiểu brilliant có mặt faxét thứ 2 ở phần đáy

Thường được máy cắt kiểu brilliant có mặt faxét thứ 2 ở phần đáy. Đối với loại màu xanh và màu vàng, kiểu cắt 8 cạnh và cắt hộp bốn bên đang được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên các loại zircon tự nhiên có màu thường mài cắt kiểu hỗn hợp.

Công ty cổ phần Trang sức và Đá quý Việt nam là một trong những công ty hàng đầu cả nước về thiết kế, chế tác về đá quý và trang sức. Nếu có mong muốn tư vấn thiết kế sản phẩm trang sức, đá quý mang tính “cá nhân hóa và gắn liền với câu chuyện của bản thân”,  Quý .ch vui lòng đăng ký trực tiếp trên website để được phục vụ tốt nhất.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY. Ngoài ra, nếu Quý khách cần hỗ trợ luôn, vui lòng nhắn tin tại TẠI ĐÂY (24/24).

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *