Sphen là gì? Tổng quan về Sphen (Sphene)

Sphen là gì? Tổng quan về Sphen (Sphene)

Khái quát chung

– Sphen tên gọi bắt nguồn từ hình dạng tiếng Hy Lạp nghĩa là “nhọn”. Được tìm thấy lần đầu tiên vào năm 1842 tại Nga.

– Ngoài tính chất là loại đá bán quý màu sắc vàng, nâu hoặc lục có giá trị, còn có có nó còn là loại đá rất trong và sáng cùng với ánh kim cương làm nên về hấp dẫn đặc biệt.

Sphen tên gọi bắt nguồn từ hình dạng tiếng Hy Lạp nghĩa là "nhọn"
Sphen tên gọi bắt nguồn từ hình dạng tiếng Hy Lạp nghĩa là “nhọn”

>>>> Topaz là gì? Thành phần hóa học và cấu trúc tinh thể

Thành phần hóa học và cấu trúc tinh thể 

Thành phần hóa học

– Sphen là silicat của titanium và calcium CaTiSiO5

tỷ lệ      CAO 28,6%     TiO2 40,8%     O2 30,6%

– Từ lượng titanium chứa trong đó mà có tên gọi hay là titanite, tuy nhiên chỉ áp dụng cho loại không có phẩm chất ngọc màu đen hoặc màu nâu phớt đỏ . Một ít sắt thường xuyên có mặt trong sphen và cả các nguyên tố đất hiếm cerium và yttrium cũng phổ biến. Các tạp chất  loại đất hiếm này thể hiện dấu vết quan sát đặc trưng qua quang phổ .

Cấu trúc tinh thể

  • Dạng tinh thể một nghiêng, nó thường có song tinh.
  • Thuộc hệ đối xứng L2PC, lăng trụ trực thoi.
  • Dạng tinh thể đặc trưng bề ngoài có  nhiều tự hình khác nhau, thường là hình lăng trụ ngắn, giống hình phong bì.

Các tính chất vật lý và quang học

Các tính chất vật lý

– Sphen giòn và có cát khai yếu, hai hướng cát khai có góc 66,50 có thể dễ bị tách vỡ.

Các tính chất vật lý và quang học
Các tính chất vật lý và quang học

– Độ cứng 5 – 6 những viên sphen rất hấp dẫn khi mới mài cắt xong, nhưng độ cứng thấp, làm cho viên đá không phù hợp với độ bền trang sức.

– Tỷ trọng thay đổi từ 3,52 – 3,54.

Các tính chất quang học

– Sphen là loại tinh thể lưỡng trục, dấu quang dương.

– Do đặc tính quang học, sphen mài cắt có độ lửa mạnh nên rất phù hợp với kiểu mài pha sét dạng brilliant hoặc kiểu cắt trộn và hầu như không thấy mài dạng cacbochon.

– Cho giá trị chiết suất thay đổi từ 1,885 và 1,990 tới 1,915 tới 2,050 cho hai hướng chính.

– Lưỡng chiết thay đổi rộng từ 0,105 tới 0,135 và như vậy vượt quá hầu hết các loại đá quý khác. Sự tách đôi ấy dễ nhận ra bằng mắt thường.

– Sphen có tính tam sắc mạnh, màu đen các hướng chính là là vàng phớt lục, vàng phớt đỏ và gần như không màu ,nhưng sắc độ chính xác phụ thuộc vào màu viên đá.

– Tán sắc của sphen 0,051 (B tới G) độ phát lửa lớn hơn cả kim cương.

– Không phát quang có lẽ do sự có mặt của sắt.

Nguồn gốc phân bố

– Những tinh thể tìm thấy làm trong các đá gơnai và granit, cũng có trong đá biến chất như đá phiến và đá dăm kết vôi.

– Các địa danh chính có sphen quý là Schwarzenstein và Reterkof của Áo,  sphen có ở Thụy Sĩ, Canada ở Madagascar. Loại cả màu nâu và lục thấy ở California . Brazil cũng là nguồn cung cấp chính đá này ngoài ra còn có ở Srilanca.

Các địa danh chính có sphen quý là Schwarzenstein và Reterkof của Áo
Các địa danh chính có sphen quý là Schwarzenstein và Reterkof của Áo

Nhận biết

  • Màu thường gặp vàng , nâu. Màu lục tương đối hiếm.
  • Độ tán sắc và ánh mạnh.
  • Lưỡng chiết suất lớn.
  • Dễ nhầm với sphalerit, rutile tổng hợp, kim cương, zircon, grossulatire. Hoặc có màu sắc gần giống với citrin, beril, chrysoberin và topaz.

Công ty cổ phần Trang sức và Đá quý Việt nam là một trong những công ty hàng đầu cả nước về thiết kế, chế tác về đá quý và trang sức. Nếu có mong muốn tư vấn thiết kế sản phẩm trang sức, đá quý mang tính “cá nhân hóa và gắn liền với câu chuyện của bản thân”,  Quý .ch vui lòng đăng ký trực tiếp trên website để được phục vụ tốt nhất.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY. Ngoài ra, nếu Quý khách cần hỗ trợ luôn, vui lòng nhắn tin tại TẠI ĐÂY (24/24).

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *