Tổng hợp thông tin chi tiết về Spinen ( Spinel)

Tổng hợp thông tin chi tiết về Spinen ( Spinel)

Khái quát chung

Nguồn gốc tên gọi của spinen còn chưa chính xác nhưng có thể xuất phát từ tên Latinh Spoit được hiểu gai nhọn, còn theo tiếng Hy Lạp từ Spark có nghĩa là phát lửa.

Thời cổ xưa spinen màu đỏ được biết dưới cái tên Balas ruby, tên này có thể bắt nguồn từ địa danh Balascia miền Nam Ấn Độ. Trong lịch sử đã có có những viên đá như ruby Hoàng tử đen được gắn trên vương miện hoàng đế Anh và viên Timur Ruby ruby nặng 361 CTS trong tài sản Hoàng gia Anh nhưng thực chất là những viên spinen.

Spinen được công nhận là một khoáng vật riêng biệt cách đây hơn 180 năm, trước đó nó được xếp vào nhóm ryby  do nó được tìm thấy cùng với ruby.

Spinen được công nhận là một khoáng vật riêng biệt cách đây hơn 180 năm
Spinen được công nhận là một khoáng vật riêng biệt cách đây hơn 180 năm

Thành phần hóa học và cấu trúc tinh thể

Thành Phần hóa học

Spinen là aluminat của Mg-có công thức hóa học: MgAl2O4.Trong đó MgO:28,2%, Al2O3: 71,8%. Trong spinen, Mg có thể thay thể bởi Fe+2 hoặc Mg+2 và Al bởi Fe+ hoặc Cr+3. Đôi khi thay thế các nguyên tố đó hoàn toàn tạo ra những khoáng vật có tên riêng biệt như ceylonit Al2O4, garnit…..

Cấu trúc tinh thể

– Tinh hệ: Lập phương, cấu trúc tinh thể của spinen khá phức tạo. Các ion oxy xếp chồng khít theo mặt song song với mặt bát diện. Các cation hóa trị 2 Mg+2, Fe+2…có 4 ion oxy xung quanh theo vị trí tứ diện, còn các cation hóa trị 3 : Al+3, Cr+3 thì có 6 ion oxy bao quanh theo góc của bát diện. Như vậy cứ mỗi ion oxy liên kết với 1 cation lưỡng trị và 3 cation tam trị. Như thế kiến trúc có đặc điểm là kết hợp các đơn vị kiến trúc tứ diện và bát diện, mỗi góc chung cho một tứ diện và 3 bát diện. Đặc điểm kiến trúc đó giải thích các tinh chất như: đẳng hướng quang học, không cát khai, độ cứng cao, tính bền hóa học.

Các yếu tố đối xứng: 3L4, 4L3 6L2 9PC

– Dạng tinh thể: hay gặp dạng tinh thể tám mặt có các mặt bóng, một số tinh thể có các cạnh của mặt tám mặt bị cắt tạo 12 mặt và có song tinh trên bề mặt tạo ra những tam giác phẳng, kiểu kết hợp song tinh này gọi là song tinh spinen.

Các tính chất vật lý và quang học

Các tinh chất vật lý

  • Độ cứng:8 , nếu có F2O3 và Cr2O3 thì giảm xuống 7-7,5
  • Cát khai và vết vỡ: cát khai không hoàn toàn theo mặt(111)
  • Vết vớ dạng vỏ sò và dễ vỡ
  • Tỷ trọng:Thay đổi từ 3,58-3,98. Nhưng loại đạt chất lượng ngọc thì tỷ trọng thay đổi ít hơn từ 3,58-3,61.Loại Giầu Fe:3,63-3,9; loại giầu Zn:-4.06
  • Điểm nóng chảy: 2135 độ C

Các tính chất quang học

Các tính chất quang học của Spinen
Các tính chất quang học của Spinen
  • Chiết suất và ánh: chiết suất:1,72, nhưng có một số chiết suất cao: ceylonit tới 1,8; ganospinen-1,715-1,753.
  • Ánh: thủy tinh
  • Màu sắc: MgAl2O4 tinh khiết thì không màu, tuy nhiên một lượng nhỏ các nguyên tố mang màu thay thế cho Mg hoặc Al sẽ tạo ra các màu sắc khác nhau. Spinne tìm thấy đủ các màu màu đỏ máu, đỏ hoa hồng nhưng phổ biến là màu nâu nhạt phớt đỏ, phớt hồng, phớt tím hoặc phớt cam; lam nhạt lam phớt tím; tím nhạt, spinne màu trắng tinh khiết chưa tìm thấy mà chúng thường có màu trắng phớt hồng và loại màu lục cũng thực sự hiếm.
  • Phổ hấp thụ loại màu đỏ cho vạch phổ rõ ràng ở vùng lục và vàng tại 540mm đặc biệt loại màu đỏ khi quan sát với điều kiện tối ưu có thể thấy 10 vạch giống như phím đàn Organ: trong đó 686 và 675. Màu lam của một dãy mạnh có tâm ở 458mm và một dải hẹp hơn 478.
  • Tính phát quang: Sự phát quang của spinen khác nhau đáng kể:

+  Màu đỏ và màu hồng: đỏ sáng-mạnh dưới sóng dài, yếu hơn dưới sóng ngắn.

+  Màu lam, màu nâu nhạt, nâu tím hầu như trơ dưới mọi bức xạ;

+  Màu tím đỏ và tím hoa cà phát quangkhác nhau dưới sóng dài, còn trơ dưới sóng ngắn.

  • Hiệu ứng quang học spinen cho hiệu ứng sao nhưng rất hiếm gặp. Có thể gặp sao 4 cánh và sao 6 cánh.

Đặc điểm bao thể

Cũng giống như corindon, trong spinen có các bao thể tiền sinh, đồng sinh và hậu sinh. CÁc bao thể đòng sinh và hậu sinh thường là các bao thể rắn như Apatit, albit, zircon, dolomit, calxit, olivin, bao thể dạng vân tay… các bao thể hậu sinh gồm rutil phân bố thành từng đám bơmit và hematit.

Các phương pháp xử lý tổng hợp

Spinen màu tím và màu hồng chuyển sang màu vàng ở nhiệt độ 1000oC, nhưng có thể trở lại màu khi nguội lạnh. Màu xanh lam chuyển sang màu lục ở nhiệt độ 900oC và chuyển sang màu vàng ở nhiệt độ 1200oC và các màu này không bị trở lại màu cũ.

Gần đây spinen màu đỏ phớt nâu đã làm tăng màu đỏ bằng cách xử lý tẩy đi thành phần màu nâu nhạt và giữ lại màu đỏ thuần khiết. Spinen được tổng hợp bằng phương phápnóng chảy ngọn lửa “flame fusion”.

Nguồn gốc và phân bố

Spinen chủ yếu có nguồn gốc biến chất và skam
Spinen chủ yếu có nguồn gốc biến chất và skam

Spinen chủ yếu có nguồn gốc biến chất và skam. Loại có giá trị thương phẩm chủ yếu được khai thác trong kiểu nguồn gốc skam. Ngoài ra spinen còn được tìm thấy trong đá greis, pegmatit, và các đá khác. Thông thường nó cộng sinh với corindon, manhetit, granat, pyroxen, clorit. Phần lowsn spinen tìm thấy trong aluvi dạng cuộn sỏi.

Các mỏ chính bao gồm: Mỏ Mogok ở Miến Điện, spinen nằm trong aluvi ở các suối và trong đá kết tinh. Mỏ Ceylan ở Sri Lanca, spinen tìm thấy chủ yếu ở dạng cuội với nhiều màu sắc, đặc biệt là màu lam nhạt và lam tối. Những mẫu spinen không đi cùng ruby và saphia được tìm thấy ở Afganistan. Ngoài ra còn một số nước khác có spinen như Thái Lan, Úc, Braxin, Mỹ( mỏ New Jersey), Nga (Uran và Zabaican).

– Tại Việt Nam spinel được phát hiện nhiều đi cùng với ruby vùng Lục Yên, Tân Hương, Quỳ Châu. Tại mỏ Lục Yên phát hiện được các tinh thể có kích thước lớn (hàng kg) trong đá hoa, tuy nhiên màu sắc của chúng thường không đẹp chỉ thích hợp làm mẫu sưu tập.

Spinen thường có mặt cùng Ruby trong aluvit và trong đá hoa trong các sản phẩm khai thác được ở khu mỏ An Phú thì spinen chiếm đến hơn 60%. Chúng nguồn gốc biến chất tìm thấy trong đã hoa kết tinh với các tinh thể có kích thước từ 1 mm đến 5 – 10 cm. Tuy nhiên trong các bồi tích đã gặp như tinh thể lớn hơn cả chục cm không đạt được chất lượng học có thể chúng có nguồn gốc pegmatit.

Spinen vùng Yên Bái tìm thấy rất nhiều màu sắc khác nhau từ đỏ tươi, đỏ nhạt, hồng, nâu hồng, nâu phớt, tím nhạt… chúng thường có dạng tinh thể 8 mặt hoàn chỉnh dạng cuộn tròn mảnh vỡ sắc cạnh.

Đá giả, đá tương tự, đá nhân tạo và cách nhận biết

Phân biệt với các đá tổng hợp

– Spinen tổng hợp thường được nuôi cấy bằng phương pháp Vernuil với một lượng dư oxit AL2O3 làm cho dễ tăng trưởng hơn. Chúng có các đặc điểm sau:

  • Độ cứng 7,5-8; tỷ trọng 3,63-3,64;
  • Chiết suất: 1,728
  • Dưới kính phân cực; tắt sáng từng phần (giả dị hướng)

– Loại gahnit tổng hợp có chiết suất 1,82; tỷ trọng 4-4,6.

  • Nguyên nhân  tạo màu lam do coban; màu lục vàng và màu phớt vàng do Mn; màu lục tối do Cr.
  • Phổ hấp thụ: màu lam -635,580,540 nm
  • Màu vàng và màu phớt lục: 445,422 nm.
  • Màu đỏ: 684.
  • Dưới kính lọc Chelsea  có màu đỏ da cam do phổ hấp thụ của Co và đặc trưng lưỡng chiết suất bất thường.

Ngoài ra một đặc điểm khác để phân biết với spinen tự nhiên là trong spinen tổng hợp có chứa các bao thể khí.

  • Tính phát quang: màu lam và màu lục cho màu đỏ – yếu dưới sóng dài và tia X còn dưới sóng ngắn yếu hơn hoặc trắng phớt lam, trắng phớt lục.
  • Màu vàng, lam phớt vàng, và lục phớt vàng cho mà lục vỏ táo dưới 3 bức xạ.
Phân biệt với các đá tổng hợp
Phân biệt với các đá tổng hợp

Phân biệt các đá tự nhiên khác

Bảng dưới đây sẽ đưa ra các đá tự nhiên có thể nhầm với spinen, và dựa vào các đặc điểm của chúng phân biệt.

Mài sắt spinen

Những viên spinen nhỏ thường được mài cắt kiểu hỗn hợp, còn những viên lớn có giá trị thường tạo dáng kiểu bậc thang được giữ được trọng lượng lớn nhất. Loại spinen có kích thước lớn những nhiều khuyết tật thì dùng chạm khắc còn những loại có kích thước quá nhỏ dùng làm tranh trang trí nghệ thuật.

Chất lượng và giá cả

Spinen có đủ những phẩm chất đẹp đẽ của loại đá quý, nhưng nó bị chia lấp bởi vẻ đẹp của ruby và saphia. Tuy vậy có màu sắc đẹp (đỏ tươi, xanh lam tươi)vẫn có giá trị đáng kể. Theo thông tin của GIA, loại spinen màu đỏ thắm mài faxet có kích thước > 8 x 10 mm có giá khoảng 225-450 $/ct.

Công ty cổ phần Trang sức và Đá quý Việt nam là một trong những công ty hàng đầu cả nước về thiết kế, chế tác về đá quý và trang sức. Nếu có mong muốn tư vấn thiết kế sản phẩm trang sức, đá quý mang tính “cá nhân hóa và gắn liền với câu chuyện của bản thân”,  Quý khách vui lòng đăng ký trực tiếp trên website để được phục vụ tốt nhất.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY. Ngoài ra, nếu Quý khách cần hỗ trợ luôn, vui lòng nhắn tin tại TẠI ĐÂY (24/24).

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *