Tìm hiểu về Beril – Emorot

Tìm hiểu về Beril - Emorot

Khái quát chung

Berin là tên gọi chung cho tinh tất cả các biến thể khác nhau của khoáng vật cùng nhóm, nó không có nghĩa là quý báo hay bán quý, cũng không phải có nghĩa là màu lục emorot, hay màu lam Aquamarin. Nó xuất phát từ tiếng Hy Lạp Berinlos, có thể nguồn gốc của nó là tên từ Ấn Độ, tên theo tiếng Đức là có nghĩa là Brille kính mắt, bởi vì từ thời trung cổ, kính đeo mắt được làm từ đá berin không màu. Nhưng theo Boece de Bôt thì berin là một loại đá quý màu xanh lam lục giống như màu xanh nước biển. Trong thương mại Berin được mang tên riêng theo màu sắc của nó.

Các biến thể của berin

  • Bixbit: màu đỏ dâu tây
  • Berin màu vàng : màu vàng chanh, vang phớt xanh hoặc vàng tinh khiết.
  • Gosdenit: là berin không màu
  • Heliodo: màu vàng nâu tới vàng kim
  • Mocganit: màu hồng có sắc tím nhạt
Berin là tên gọi chung cho tinh tất cả các biến thể khác nhau của khoáng vật cùng nhóm
Berin là tên gọi chung cho tinh tất cả các biến thể khác nhau của khoáng vật cùng nhóm

Thành Phần hóa học và cấu trúc tinh thể

Thành Phần hóa học

  • Công thức hóa học: Al2Be3(Si6O18)

Cấu trúc tinh thể

  • Tinh hệ: Lục phương
  • Dạng tinh thể: Lăng trụ 6 phương kéo dài theo trụ bậc 3

Các tính chất vật lý và quang học

+  Các tính chất vật lý

  • Màu vết vạch: trắng
  • Độ cứng:7,5-8
  • Tỷ trọng: 2,65-2,75/2,8
  • Cát khai: có cát khai yếu theo mặt cơ sở
  • Vết vỡ: vỏ sò

+  Các tính chất quang học

  • Màu sắc: vang kim, vàng lục, vàng lam, đỏ, hồng, không màu.
  • Độ trong suốt: trong suốt đến đục
  • Chiết suất: 1,57-1,60
  • Độ tán sắc: 0,014
  • Tính đa sắc: berin vàng: yếu, vàng chanh/vàng kim

Heliodor: yếu, vàng kim/ vàng lục

Morganit: rõ, vàng lục/ lam lục

Berin lục: rõ, vàng lục/lam lục

  • Phổ hấp thụ: không đặc trưng
  • Tính phát quang : morgait có màu tím, yếu.

Dưới đây là hai biến thể tiêu biểu của berin

EMOROT (EMERALD)

Khái quát chung

Tên gọi xuất xứ từ tiếng Hy Lạp “Smaragdos” có nghĩa là đá màu lục, và được người Ba Tư và người HIndu cổ xưa sử dụng, ở thời kỳ cổ đại nó không những ám chỉ emorot mà còn là tên gọi cho phần lớn các đá màu lục khác.

Emorot là loại đá quý có tính thương mại đầu tiên của loài người
Emorot là loại đá quý có tính thương mại đầu tiên của loài người

Loại đá này được sử dụng và ưa chuộng từ 4.000 năm trước công nguyên. Emorot là loại đá quý có tính thương mại đầu tiên của loài người, là biểu tượng của thần Venus, thời cổ nó cũng tượng trưng cho pháp luật, sức mạnh và tình yêu. Emorot là đã sinh nhật tháng năm.

Nơi tìm thấy emorot  đầu tiên trên thế giới là Ven Biển Hồng Hải ở Ai Cập, đó là  mỏ Cleopatra. Mỏ này được khai thác suốt 200 năm trước công nguyên và phần lớn emorot được sử dụng làm trang sức thời bấy giờ là do mỏ này cung cấp.

Thành phần hóa học và cấu trúc tinh thể

Thành phần hóa học

Giống beril, nguyên tố tạo màu là Cr, đôi khi là V.

Cấu trúc tinh thể

Giống beril

Các tính chất vật lý và quang học

+ Các tính chất vật lý

  • Tỷ trọng:2.67-2,78
  • Các tính chất khác giống beril

+ Các tính chất quang học

– Màu sắc: emorot thường có màu lục tới lục đậm.Màu lục của emorot không gì sánh được vì thế được gọi riêng là lục emorot. Nguyên nhân tạo màu lục là do Cr2O3, đôi khi là vanadi. Màu sắc rất ổn định dưới tác dụng của ánh sáng và nhiệt, chỉ biến đổi nhiệt độ 700-800 độ C

Màu được ưa chuộng nhất là màu lục thắm còn màu lục nhạt và lục tối ít chuộng hơn. Màu sắc trong viên đá thường phân bố không đều, mà tạo thành các sọc hoặc đám màu. Sắt cũng thường xuyên có mặt trong emorot và nằm giảm sự phát quang của đá .

  • Chỉ số chiết suất: 1,576-1,582
  • Lưỡng chiết: 0,006
  • Phổ hấp thụ: 6835,6896,6620,6460,6370,6300,5800,4774,4725.
  • Tính phát quang: Phát quang màu đỏ. Dưới kính lọc Chelsea cũng cho màu đỏ. Sự phát quang này có thể bị giảm đi khi có mặt của Fe, và có thể không phát quang.
  • Đặc tính quang học: Một trục âm.

Đặc điểm bao thể

Thông thường emorot chứa các bao thể tự nhiên như: bao thể lỏng với bọt khí và các bao thể cứng khác. Những bao thể đó là chứng cứ cho nguồn gốc tự nhiên của viên đá so với loại tổng hợp và mô phỏng.

Bao thể rắn trong emorot: pyrit, sylvin, parisit (một khoáng vật đất hiếm), bao thể tinh thể âm định hướng song song với trục của tinh thể .Đặc biệt trong emorot hay có các màng sương nên người ta có tên gọi cho loại này là ” emorot vườn cảnh”.

Các phương pháp xử lý và tổng hợp.

Emorot được tổng hợp trong công nghiệp chủ yếu bằng phương pháp nhiệt dịch và ít hơn là phương pháp chất trợ dung “flux”

Nguồn gốc và phân bố

Các mỏ emorot chủ yếu gặp ở Colombia, Liên Xô cũ, Brasil, Pakistan, Zimbabue, Indonexia, ở Úc và một vài nơi khác. Hiện tại Việt Nam chưa phát hiện được emorot, nhưng các dấu hiệu địa chất ở một số vùng có thể cho phép phát hiện emorot trong tương lai.

Chế tác

Emorot chất thường được mài cắt theo kiểu cắt bậc, vát bốn góc
Emorot chất thường được mài cắt theo kiểu cắt bậc, vát bốn góc

Emorot chất thường được mài cắt theo kiểu cắt bậc, vát bốn góc tạo nên hình đa giác 8 cạnh điều này được gọi là kiểu “emorot”. Kiểu chế tác này là có số lượng mặt facet ít tạo cho emorot thể hiện màu lục thắm một cách có hiệu quả nhất. Mặc dù trên thực tế có kiểu cắt hỗn hợp: trên là kiểu kim cương (brilliant) dưới là cắt bậc cũng dùng nhưng ít áp dụng vì nó làm cho viên đá quý trong giống như thủy tinh. Emorot có chất lượng kém hoặc nhiều khuyết tật được mài kiểu cabohon làm thành các chuỗi hạt hoặc chạm khắc.

Đá giả, đá tương tự, đá nhân tạo và cách nhận biết.

Các loại đá tương tự

Emorot có thể nhầm lẫn với các loại đá khác như demantoit (nhóm granat), peridot, tuamalin màu lục, uvarovit, diopxit, jadeit, saphia màu lục, fluorit. Đối với các đá tự nhiên trên , để phân biệt với emorot ta dựa vào tỉ trọng của chúng hoặc dựa vào chiết suất bởi vì tỉ trọng và chiết suất của các đá này cao hơn hẳn emorot

Đá giả

Đá ghép đôi giả emorot cũng có mặt trên thị trường , chủ yếu gồm 2 mảnh đá tự nhiên nhạt màu (thạch anh, aquamarin, berin hoặc emorot màu nhạt) được gắn với nhau bằng loại nhựa có màu lục như “lục emorot”. Cũng có loại emorot màu nhạt được sơn dưới đáy làm tăng cường độ màu, sẽ khó khăn khi giám định nếu chúng được gắn trên nhẫn , tuy nhiên dùng kính phóng xạ sẽ dễ dàng nhận ra lớp lót.

Đá tổng hợp

Emorot tổng hợp xuất hiện trên thị trường từ năm 1950. Ngày nay có rất nhiều loại emorot được tổng hợp theo những phương pháp khác nhau. Tuy nhiên để phân biệt với emorot tự nhiên ta dựa vào các đặc điểm bao thể.

Các dạng bao thể đặc trưng cho emorot tổng hợp gồm các cấu trúc sinh trưởng dạng chữ “v”, các bao thể tàn dư của chất trợ dung , các bao thể phenakit không màu dạng kim, các bao thể dạng vân tay…

Công ty cổ phần Trang sức và Đá quý Việt nam là một trong những công ty hàng đầu cả nước về thiết kế, chế tác về đá quý và trang sức. Nếu có mong muốn tư vấn thiết kế sản phẩm trang sức, đá quý mang tính “cá nhân hóa và gắn liền với câu chuyện của bản thân”,  Quý khách vui lòng đăng ký trực tiếp trên website để được phục vụ tốt nhất.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY. Ngoài ra, nếu Quý khách cần hỗ trợ luôn, vui lòng nhắn tin tại TẠI ĐÂY (24/24).

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *