Tìm hiểu chi tiết về Nhóm Canxedon và Opal

Tìm hiểu chi tiết về Nhóm Canxedon và Opal

CANXEDON

Khái quát

Là tên dùng chỉ loại biến thể vi sinh của thạch thạch anh và đã được sử dụng từ rất xa xưa bởi có màu sắc hấp dẫn, độ cứng khá lớn được dùng để trang trí và chạm khắc.

Tên canxedon có lẽ được bắt nguồn từ chữ calxedon hoặc calchedon một cảng biển cổ vùng Marmara, ở đây đầu tiên người ta khai thác canxedon hoặc dùng cho mục đích trang trí và đã từng là trung tâm buôn bán đá quý thời đó.

Thành phần hóa học và cấu trúc tinh thể

  • Tinh hệ: Sáu phương giống thạch anh nhưng thường ở dạng ẩn tinh.
  • Thành phần hóa học: SiO2
Là tên dùng chỉ loại biến thể vi sinh của thạch thạch anh
Là tên dùng chỉ loại biến thể vi sinh của thạch thạch anh

Các tính chất vật lý và quang học

Các tính chất vật lý

  • Độ cứng : 6,5 – 7
  • Tỷ trọng : 2,58 – 2,64
  • Cát khát : Không
  • Vết vỡ: Không bằng phẳng, dạng vỏ sò.

Tính chất quang học

 – Màu sắc: Màu sắc đặc trưng là màu lam xám trắng và màu này thường bao phủ toàn bộ viên đá giống như của jasper. Các loại màu có giá trị và được ưa chuộng hơn màu nâu nhạt (sard), đỏ (cornelia), đen và lục (chrysopase), trắng và đen hoặc trắng và xám (onyx) với độ trong suốt từ bán trong tới đục.

– Chiết suất : 1,530 – 1,539

– Độ tán sắc: không

– Phát quang: Xanh lơ

– Phổ hấp thụ: Loại nhuộm màu xanh đó thường có phổ tại 6270, 6600 – 6900.

Màu sắc đặc trưng là màu lam xám trắng
Màu sắc đặc trưng là màu lam xám trắng

Mài cắt

Các loại conxedon đều được cắt cabonchon, hoặc chạm khắc và dùng làm dây chuyền và một số đồ nữ trang khác. Ngày xưa canxedon được dùng chủ yếu để chạm khắc các loại tượng nhỏ, ly rượu, bình đựng rượu lễ. Agat và onyx được dùng để chạm khắc các loại cameo do chúng thường có các màu đới khác nhau rất hấp dẫn.

Dấu hiệu nhận biết 

Phân biệt dựa trên các đặc tính của màu, có độ cứng trung bình và ánh. Tỷ trọng khá thấp (2,61) độ cứng (6,5) nhỏ hơn các loại thạch anh khác. Canxedon rất nhầm với một số loại đá quý bán trong trong tới đục như nefrit, jadeit, malachit, lapi-lazuli, moonstone, amazonit, turquois. Phân biệt với amazonit bởi tính cát khai và ánh cũng có thể chiết suất để phân biệt (amazonit có chiết suất thấp hơn – 1,52).

Nguồn gốc và phân bố

Được khai khai thác nhiều ở Urugoay ở khu vực biên giới với Braxil
Được khai khai thác nhiều ở Urugoay ở khu vực biên giới với Braxil

Được khai khai thác nhiều ở Urugoay ở khu vực biên giới với Braxil và ở một số khu vực khác.

Agat được khai thác nhiều ở Đức, chryropase cũng được khai thác nhiều ở Đức, Nga và Mỹ …

Giá trị

Trên thương trường có giá trị khá cao, trong đó chryropase có giá trị

Giả và tổng hợp

Ngày xưa canxedon được làm giả bởi thủy tinh, không được tổng hợp trong công nghiệp.

OPAL

Khái quát chung

Opal được biến đến từ rất lâu và ngày xưa chúng chủ yếu được sử dụng làm vật liệu trang trí trong đề đài và cung điện, bên cạnh đó một khối lượng lớn được sử dụng làm trang sức.

Thành phần hóa học và cấu trúc tinh thể:

Thành phần hóa học

Với công công thức hóa học SiO2.nH2O, opal không có thành phần hóa học nhất định. Nó chứa nước từ 1% tới 5% và nhiều khi tới 34%. loại opal quý thường chứa khoảng 6-10% nước. Nước trong opal rất dễ mất khi ta nung nóng với quá trình mất nước viên đá sẽ bị nứt vỡ, làm mất màu và làm giảm độ tinh khiết.

Opal không có thành phần hóa học nhất định
Opal không có thành phần hóa học nhất định

Cấu trúc tinh thể

Thường thấy thành khối đặc xít giống thủy tinh, bề ngoài như thạch nhũ. Nó là thành phần chính của một vài cơ thể như xác diatome, gai của hải miền, bộ xương của phóng xạ trùng, các giống này ăn ăn các dung dịch keo silic. Nhờ có bộ xương silic các sinh vật đó được bảo tồn thành hóa thạch rất nhiều, ngay trong các lớp đọng thời cổ nhất.

Thường tạo các mạch nhỏ nhiều khi tới 10 cm hoặc hơn dạng nodule bên trong các lỗ trống hoặc ngoài khe nứt trong các đá giàu silicat. Cũng thường gặp opal ở dạng hình của khoáng vật khác.

Tính chất vật lý và quang học

Tính chất vật lý

  • Độ cứng: 5-5,5
  • Tỷ trọng: 1,9-2,5 loại opal quý thường có tỷ trọng trong khoảng 2,1-2,2 (tỷ trọng opal thay đổi lượng nước trong thành phần).
  • Cát khai: Không
  • Vết vỡ: Vỏ sò

Tính chất quang học

  • Chiết suất: 1,4-1,46
  • Lưỡng chiết suất: Không
  • Tính đa sắc: Không
  • Tính tán sắc: Không
  • Phổ hấp thụ : Không đặc trưng
  • Màu sắc: Opal là khoáng vật có màu tự sắc, bình thường chúng không màu nhưng do lẫn các tạp chất mang màu nhất là Fe và một số tạp chất mang màu khác chúng có các màu khác nhau vàng , nâu , đỏ, lục, đen, opal, quý thường có màu sặc sỡ như cầu vòng.
  • ánh: thủy tinh tới bán thủy tinh, loại opal thường, thường có ánh nhựa.
Opal là khoáng vật có màu tự sắc, bình thường chúng không màu
Opal là khoáng vật có màu tự sắc, bình thường chúng không màu

Nguồn gốc và phân bố

Opal nhiều khi đọng trong các suối nhiệt dịch và suối phun ở các khu vực núi lửa, đôi khi thành những thạch nhũ trắng, trong suốt, có quang thái ngọc. Opal cũng thường liên quan tới các loại đá macma phun trào như ryolit, andezit và trachit trong trong đó opal thường được lắng đọng trong các lỗ hổng ở nhiệt độ thấp. Ở Australia thường gặp opal liên liên quan tới phun trào trachit và bazan, trong cái kết silic ở đó opal được tái lắng đọng.

Phân loại

Người ta phân loại opal ra làm 2 loại dựa vào đặc điểm của chúng là opal quý và opal thường.

Opal quý

Đặc trưng nổi bật của loại opal này là hiệu ứng opal tức là khi ta quan sát viên đá ở các hướng khác nhau sẽ thấy hiện tượng như cầu vồng suốt hiện trên bề mặt viên đá .

Mãi cho tới những năm 1960 Người ta vẫn cho rằng nguyên nhân của hiện tượng này là do sự khúc xạ ánh sáng trên các mặt lớp bề mặt rất mỏng của viên đá. Tuy nhiên gần đây bằng việc nghiên cứu cấu trúc của opal dưới kính hiển vi điện tử ở độ phóng đại đến 20.000 lần cho thấy opal được cấu tạo bởi các hình cầu SiO2 rất nhỏ sắp xếp thành các lớp kỳ cực kỳ đều đặn. Điều kiện dễ nhiễm xạ có màu là khi khoảng cách giữa các lớp xấp xỉ bằng Bước sóng của màu đó chia cho hệ số phản xạ của hình cầu. Hệ quả là bước sóng nhiễu xạ sẽ tỷ lệ thuận với kích thước của hạt. Ví dụ, màu đỏ đậm tạo bởi các hạt kích thước 250 nm, các màu khác tạo ra bởi các hạt nhỏ hơn với đường kính kích cỡ 140 nm. Khi khoảng cách giữa các hàng cầu quá lớn thì hiệu ứng tán sắc sẽ không còn nữa khi đó chúng trở thành loại opal thường.

Đặc trưng nổi bật của loại opal này là hiệu ứng opal
Đặc trưng nổi bật của loại opal này là hiệu ứng opal

– Nguồn gốc : Opal quý được khai thác nhiều ở Australia ở các vùng New south Wales và Queensland, một số khác được khai thác ở Brazil, Nhật Bản.

– Dấu hiệu nhận biết :rất dễ nhận biết bởi hiệu ứng opalescence.

– Giả và tổng hợp: Khó có loại đá nào làm giả opal quý. Tuy vậy đôi khi cũng gặp một số loại thủy tinh được làm giả Opal và khá giống với tự nhiên. Do được ưa chuộng nên opal quý thường gặp ở dạng ghép đôi và ghép 3 ở dạng ghép đôi phần trên thường là một tấm mỏng opal bao quý còn phần dưới là Opal thường hoặc inox ở dạng ghép ba thì lớp trên mặt thường là thạch anh pha lê.

Opal thường

Là loại Opal khá phổ biến mà không có các hiệu ứng màu như ở opal và chúng mang một số loại tên khác nhau trên thương trường như agat, hyalit, Opal mật ong khi chúng có màu vàng mật ong, opal sữa,……..

Các đặc tính của Opal cơ lý và ngọc học của opal thường cũng tương tự như opal quý.

Công ty cổ phần Trang sức và Đá quý Việt nam là một trong những công ty hàng đầu cả nước về thiết kế, chế tác về đá quý và trang sức. Nếu có mong muốn tư vấn thiết kế sản phẩm trang sức, đá quý mang tính “cá nhân hóa và gắn liền với câu chuyện của bản thân”,  Quý .ch vui lòng đăng ký trực tiếp trên website để được phục vụ tốt nhất.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY. Ngoài ra, nếu Quý khách cần hỗ trợ luôn, vui lòng nhắn tin tại TẠI ĐÂY (24/24).

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *