Spodumen là gì? Cách nhận biết Spodumen cực chuẩn

Spodumen là gì? Cách nhận biết Spodumen cực chuẩn

Khái quát chung

– Loại ngọc đã rất thịnh hành ở Bắc Mỹ. Kunzit là loại đá hấp dẫn màu hồng xanh. Kunzit là biến thể của loại khoáng vật spodumen, kháng vật cho màu vàng, lục phớt vàng và lục emorot.

– Tên của spodumen theo nghĩa tiếng Hy Lạp nghĩa là “cháy thành tro” nói bóng về vẻ ngoài thô kệch của những tinh thể phi ngọc mà chúng đôi khi đạt đến kích thước khổng lồ có tinh thể nặng 90 tấn dài 16 m rộng 1 m ở bang Dacota (Mỹ). Những tinh thể loại này chỉ có giá trị cho kim loại litium và hợp chất của nó dùng cho y tế ,chất cháy, thuốc ảnh, thủy tinh , ảnh X quang và sử dụng trong phản ứng nhiệt hạch.

– Những tinh thể loại ngọc bao gồm các biến thể kunzite phớt xanh hoặc hồng xanh. Màu vàng và lục phớt vàng chưa có tên đặt cho nó. Những viên có màu lục emorot, có lẽ do sắc màu của crom gọi là hiddenite. Do người tìm ra đặt tên cho nó khi tìm thấy ở Carolina (USA).

Loại ngọc đã rất thịnh hành ở Bắc Mỹ
Loại ngọc đã rất thịnh hành ở Bắc Mỹ

Thành phần hóa học và cấu trúc tinh thể

Thành phần hóa học

  • Thành phần của spodumen là lithium aluminium silicat có công thức LiAl(SiO3).
  • Hàm lượng LiO 8.1% Al2O3 27,4% SiO2 69,5% có Na2O đôi khi có CaO, MgO, Cr2O3. Chứa đất hiếm, thường là caesium. Nó là một trong số ít loại ngọc chứ Li và điều này làm loại hiddenit lục được gọi là “LithiaEmerald”.

Cấu trúc tinh thể

– Spodumen kết tinh hệ đơn nghiêng dạng lăng trụ thuộc hệ đối xứng L2PC.

– Những lăng trụ dạng tấm, que đôi khi thành khối ẩn tinh đặc xít .Song tinh theo (100). Các mặt thẳng đứng có vết sọc. Tinh thể biểu hiện tính cát khai hoàn toàn hoặc rõ ràng theo hai hướng song song với mặt lăng trụ tạo hướng cát khai gần vuông góc với nhau

Tính chất vật lý và quang học

Tính chất vật lí

  • Mặt phân phiến (100).
  • Ánh thủy tinh, hơi có ánh ngọc trên những mặt cát khai.
  • Độ cứng 6,5-7.
  • Tỉ trọng thay đổi  3,17-3,19.

Tính chất quang học

– Chiết suất: Giá trị chiết suất thay đổi xấp xỉ bằng 1,660 và 1,675 cùng giá trị lưỡng chiết suất rất rõ ràng 0,015.

– Tinh thể thuộc loại lưỡng trục và có dấu quang dương.

– Ánh:thủy tinh

– Độ tán sắc thay đổi từ B tới G chỉ có 0,017.

Tính chất vật lý và quang học
Tính chất vật lý và quang học

– Phổ hấp thụ: trong kunzit không có quang phổ hấp thụ rõ ràng để nhận biết, tuy nhiên hiddenite có qua cổ điển hình cho cromium. Trong hiddenit có cặp đường phổ cromium ở 6905 và 6806 A0 . Những đường yếu hơn trong vùng đỏ và da cam có vị trí 6690 và 6460 A0 ,trong khi giải hấp thụ tập trung gần 6200 A0. Như vậy không có đường nào ở vùng lam nhưng vùng tím có hấp thụ bình thường.

Màu vàng và lục phớt vàng của spodumen thấy quang phổ có giải rõ rõ ở vùng lam 4.375 A0, chúng có cùng vị trí như loại piroxen khác là jadeite, đó là những giải hẹp ở 4330 A0, cả hai đều do sắt.

– Phát quang: kunzit thấy phát quang hồng, vàng kim hoặc da cam dưới sóng dài và cũng tương tự như vậy nhưng yếu hơn dưới sóng ngắn.

Dưới X-quang kunzit  thấy phát quang da cam rất mạnh cùng với tia thứ sinh duy trì mạnh. khi nhuốm lân quang, viên đá thấy thay đổi màu tới lục phớt xanh, điều này cho thấy cần phải để đá tránh xa những nguồn sáng mạnh. Màu sắc sẽ thay đổi kèm theo phát quang (ánh da cam) nếu viên đá giữ vài giờ trong ánh sáng mạnh, hoặc nung ở nhiệt độ 200 độ C.

Spodumen lục phớt vàng thấy phát quang vàng da cam yếu dưới cực tím, nhưng cực kỳ yếu dưới sóng ngắn. Tia phát quang tương đối mạnh dưới X quang như không giống kunzit, không thấy lân quang và không thay đổi màu. Biến thể màu do Crom của hiddenit không thấy biểu hiện dưới tia cực tím, nhưng với X quang hơi da cam cùng với lưu quang.

Nguồn gốc và phân bố

Thường thấy trong pecmatit, granit cộng sinh với thạch anh, fespat, micali, tuamalin… Dễ bị biến đổi thứ sinh do tác dụng của các dung dịch Na2O, bị phá hủy và tạo thành cyplit , anbit (NaAlSi3O6) và sericit (micaK)

Địa danh chính của ngọc spodumen là Bắc và Nam Mĩ, ở Madagascar và Miến Điện. Loại spodumen không ngọc được các nhà khoáng vật học biết từ cách đây hơn 200 năm, những loại có chất lượng ngọc vẫn chưa được biết, đến năm 1877 khi được thông báo có loại Spodumen vàng trong ở Minas Gerais, Brazil và loại này được bán như chrysoberil.

Khoảng năm 1879, những tinh thể lục phớt vàng và lục được thấy ở Bắc California (Mỹ). Đầu tiên cho rằng diopsize, những tinh thể tìm được sau này là Spodumen, như đã nói nó có tên hiddenite. Những tinh thể có màu thay đổi từ biến thể không màu hiếm gặp đến màu vàng sáng và màu lục emorot. Người ta phát hiện ra lần đầu tiên trong những hố cộng sinh với emorot thật, bở rời trong đất, nhưng sau đó những tinh thể hoàn hảo được tìm thấy gắn trong các dai mạch, trong các thể tường, đá ở mỏ này mài cắt hiếm khi hơn 2 ct/viên. Loại hiddenit có màu nhạt nhưng kích thước lớn mới đây có nguồn gốc từ Brazil. Loại spodumen trắng mắt mèo cũng được thấy.

Địa danh chính của ngọc spodumen là Bắc và Nam Mĩ
Địa danh chính của ngọc spodumen là Bắc và Nam Mĩ

Lần đầu tiên phát hiện ra spodumen hồng xanh ở Connecticut, Mỹ từ 1879 , ở mỏ này đã không có giá trị về ngọc. Hơn 20 năm sau mới tìm ra được loại ngọc hồng xanh của những tinh thể kunzite ở California ,núi Heriart từ đó mang lại rất nhiều kunize chất lượng ngọc, spodumen màu vàng và lục phớt vàng cùng có với kunzit hồng phớt xanh.

Spodumen ở biến thể kunzite và lục nhạt hoặc vàng nhạt đã được thấy ở đảo Madagascar từ thập kỷ 20 của thế kỷ này. Những tinh thể xuất hiện trong đai pecmatit cắt ngang đã cổ và sa khoáng aluvi từ đó ra.

Từ lúc mới tìm thấy spodumen màu vàng cho đến khi phát hiện ra túi chứa ngọc quan trọng spodumen trong đới pecmatite thuộc khu chứa ngọc của Brazilian. Chất liệu ở đây chủ yếu là vàng nhạt hoặc lục nhạt, vài mạch pecmatit ở Bắc Governador Valadares cho loại kunzit tìm được cùng tuamalin, berin và mica.

Spodumen cũng được thấy ở vùng Mogok (Miến Điện).

Chế tác

Bởi vì cát khai mạnh của spodumen làm nó khó khăn trong mài cắt facet, hơn nữa đặc điểm mỏng của nhiều viên đá cũng làm việc cắt Mài không thuận lợi cho đá màu. do đa sắc, sự tập trung màu đậm gần song song với chiều dài tinh thể, điều này khiến viên đá cắt mài để mặt bàn facet vuông góc với hướng đó sẽ cho kết quả tốt nhất.

Một điều quan trọng trong trường hợp kunzit là nó thường mài rất sâu nhằm tăng độ đậm nhạt của màu. Một số viên kunzit có xu hướng nhạt màu dưới ánh sáng mặt trời mạnh.

Vài loại spodumen nâu phớt vàng trở về màu tím sau khi nung.

Nhận biết

Spodumen nhận biết chính xác phải bằng các hằng số quang học
Spodumen nhận biết chính xác phải bằng các hằng số quang học

Spodumen nhận biết chính xác phải bằng các hằng số quang học. Trong các khoáng vật piroxen đơn tà nó có góc tắt nhỏ nhất.

Kunzit giả bởi syn spinel và bởi thủy tinh có màu tương tự. Nhưng phân biệt dễ do cả hai loại này đều đơn chiết suất, ngược lại với Kunzit là loại có lưỡng chiết mạnh đủ để quan sát được bằng kính lúp hơn nữa thủy tinh và syn spinel không có lưỡng sắc. Có thể gần giống Kunzit là loại amethyst nhưng ngoài tỷ trọng và chiết suất khác nhau, chúng khác nhau về ánh.

Spodumen có thể nhầm với topaz, tuamalin, spinel, berin, syn corundum, đá ghép, corundum và cả emorot, peridot, chrysoberin và dematoit garnet.

Ngày nay hiddennit cực kỳ hiếm, những viên đá được nói tới đề dưới 3 carat.

Công ty cổ phần Trang sức và Đá quý Việt nam là một trong những công ty hàng đầu cả nước về thiết kế, chế tác về đá quý và trang sức. Nếu có mong muốn tư vấn thiết kế sản phẩm trang sức, đá quý mang tính “cá nhân hóa và gắn liền với câu chuyện của bản thân”,  Quý .ch vui lòng đăng ký trực tiếp trên website để được phục vụ tốt nhất.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY. Ngoài ra, nếu Quý khách cần hỗ trợ luôn, vui lòng nhắn tin tại TẠI ĐÂY (24/24).

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *