Phương pháp nhận biết đá quý tổng hợp

Phương pháp nhận biết đá quý tổng hợp

Các dấu hiệu để nhận biết

Đường sinh trưởng

 – Đá quý tự nhiên: trong corindon các đường sinh trưởng thường là thắng góc những đường thẳng gấp khúc theo hình dạng tinh thể đôi khi có dạng sinh trưởng xoắn góc hoặc gấp khúc kiểu hình nêm.

Đá quý tổng hợp: các đường sinh trưởng cong (theo phương pháp kết tinh từ dung thể):

Phân đới màu

Đá quý tự nhiên: Các đới màu xếp song song với bề mặt sinh trưởng, cso cạnh sắc rõ rệt, có ranh giới rõ ràng.

– Đá quý tổng hợp: Đới màu kèm theo riềm ngũ sắc, mảnh và thẳng hơn so với đá tự nhiên (phương pháp Verneuil).

Đá quý tự nhiên: Các đới màu xếp song song với bề mặt sinh trưởng
Đá quý tự nhiên: Các đới màu xếp song song với bề mặt sinh trưởng

Song tinh

– Đá quý tự nhiên:Thường gặp song tinh dạng tấm, song tinh đa hợp. Song tinh cso thể theo một hướng hoặc hai hướng. Đặc trưng bởi các viết tách, khía.

Đá quý tổng hợp: Không gặp song tinh đa hợp.

Bảo thể

– Đá quý tự nhiên:Gồm các bao thể tiền sinh, đồng sinh, hậu sinh. Về bản chất chúng có thể là các bao kháng thể, bao thể lỏng, bao thể khí và hôn hợp. Các bao thể khoáng thể khoáng thường có dạng tinh thể hoặc dạng gặm mòn, các bao thể dạng kim, que (rutin, boemit), các bao thể ở dạng tinh thể âm, bao thể dạng vân tay.

– Đá quý tổng hợp: bao thể khí (phương pháp Verneuil) có dạng tròn, tròn kéo dài hoặc xếp với nhau thành những đường cong song song với các đường sinh trưởng.

Các bao thể plantin (phương pháp chất trợ dung) màu đen, dạng đa giác; các bao thể chất trợ dung có dạng vân tay (bên ngoài là dạng tinh thể nhưng bên trong là chất trợ dung). Đặc trưng của các bao thể trợ dung là có bề mặt thô, nhiều vết rạn trên bề mặt với phần nhân trong suốt ở giữa.

Đặc điểm của các loại đá quý tổng hợp chủ yếu

Các phương pháp nuôi từ dùng thể

Phương pháp Verneuil (ruby, saphia, spinen, alexandrit)

Dấu hiệu quan trọng nhất của đá quý được tổng hợp bằng phương pháp Verneuil là các đường sinh trưởng cong các đường này sắp xếp đường nọ nằm trên đường kia (tựa như các những rãnh nhỏ trên đĩa hát). Để có thể quan sát được chúng ta phải quan sát mẫu theo hướng vuông góc với trục dài của tinh thể. Đồng thời dùng kỹ thuật chiếu sáng thích hợp là rất quan trọng. Các đường sinh trưởng cong thường thể hiện rõ nhất khi sử dụng ánh sáng trường hợp trường tối hoặc trường sáng nhưng sử dụng công nghệ che bóng. Khi xem xét viên đá cần được xoay ở các hướng khác nhau với nguồn sáng đủ mạnh. Đối với các viên đá đã được mài facet sự phản xạ của ánh sáng từ trên mặt làm ta khó có thể phát hiện được những đường sinh trưởng cong. Khi đó viên đá phải được quan sát từ mặt bên hoặc nhúng chúng vào metylen iodua.

Các đường sinh trưởng cong dễ dàng quan sát được trong corindon, spinen tổng hợp Vernueil màu đỏ. Trong saphia, spinen được tạo bằng Fe hoặc Ti thay vì thấy các đường sinh trưởng cong ta sẽ thấy các đới màu cong.

Phương pháp Verneuil (ruby, saphia, spinen, alexandrit)
Phương pháp Verneuil (ruby, saphia, spinen, alexandrit)

Các bao thể khí cũng là một dấu hiệu các đá Vernueil. Chúng có các hình dạng và kích thước khác nhau. Cách tốt nhất để quan sát bọt khí là dùng ánh sáng trường tối hay cáp quang khi đó chúng có chúng sẽ có màu tối nổi lên trên nền sáng do hiện tượng phản xạ ánh sáng từ bề mặt. Các bọt khí thường có dạng hình cầu hình “nòng nọc” sắp xếp thành giải vuông góc với đường cong sinh trưởng.

Corindon được tổng hợp bằng phương pháp nung chảy trong ngọn lửa thường cho hiệu ứng plato khi quan sát qua tấm phân cực và nhìn song song với trục quang học khi đó các trường này sẽ xuất hiện ở dạng đơn, cặp đôi, cặp ba cắt nhau một góc 60 độ hoặc 120 độ. Đây là một dấu hiệu để khẳng định corindon tổng hợp.

Dùng phổ kế để nhận biết sự vắng mặt hai có mặt số đặc trưng của đã thiên nhiên hay tổng hợp. Ruby thiên nhiên và tổng hợp đều có màu đỏ do sự có mặt của Cr2O3, chúng đều có đường phổ hấp thụ đặc trưng cho Cr là 692 – 694 mm. Nhưng khác ở chỗ ruby thiên nhiên màu đỏ sẫm còn có thêm phổ hấp thụ ở Re là 451,5 m, ruby tổng hợp hoàn toàn vắng mặt khổ này; saphia thiên nhiên có màu xanh là do Fe, Ti chúng gây ra ba vạch phổ hấp thụ tại 451,5, 460 và 470 nme (thường gọi là đường của Fe) saphia Verneuil màu xanh cũng do nguyên tố gây màu là Fe, Ti nhưng quá trình hình thành tại Fe bị bay hơi nên vắng mặt ở phổ hấp thụ của Fe 451,5 nm. Trường hợp ngoại lệ có thể thấy vạch 451,5 nm.

Phương pháp nóng chảy vùng

Đặc điểm của corindon loại này là không chứa các bao thể rắn và có đặc tính là đường sinh trưởng hình xoắn ốc và đám mây bọt khí xếp thành hình con “nòng nọc”. Trong trường hợp của các viên đá hồng và da cam khi đó ta phải nhúng chúng vào trong metylen iodua khi đó sẽ quan sát rõ hơn. Ngoài ra còn quan sát thấy nhiều đường Khía xếp thẳng góc.

Phương pháp Czockralski (ruby, saphia)

Corindon tổng hợp bằng phương pháp Czockralski xuất hiện ít hơn trên thị trường. Dưới kính hiển vi đá Czockralski thường rất sạch và bằng mắt thường ta quan sát thấy chúng có các đặc điểm tương tự như corindon Vernueil. Nhưng bằng việc xem xét kỹ lưỡng sẽ giúp ta phân biệt được trúng với đá tự nhiên và đá Vernueil. Quan trọng nhất là các bọt khí và các đường cong sinh trưởng mờ.

Phương pháp Czockralski (ruby, saphia).
Phương pháp Czockralski (ruby, saphia).

Đặc biệt là trong đá inamori quan sát được các phần tử nhỏ li ti xếp thành hàng song song giống như các bao thể chất trợ dung dạng mưa sa trong Ruby kasha các tinh thể platin dạng kim trong đá inamori thường nhỏ hơn và ít hơn so với corindon chatham. Các đường sinh trưởng của Ruby inamori thường rất mờ do vậy vậy để quan sát được chúng phải dùng phương pháp nhúng và ánh sáng che bóng. Khi đó ta có thể quan sát được nhiều hướng khác nhau.

Phương pháp chất trợ dung

Khác với các loại đá tổng hợp khác, đá loại này được nuôi trong thời gian kéo dài (có khi nhiều tháng) các tinh thể thường phát triển khá hoàn chỉnh do vậy rất dễ nhầm với đá thiên nhiên.

Phương pháp chatham

Các đá tổng hợp loại này thường có đủ các màu từ đó, da cam, vàng và xanh. Ruby loại này rất giống với Ruby của Thái Lan, Miến Điện, Quỳ Châu, Lục Yên nhưng chúng thường có tông màu tốt hơn. Khi quan sát dưới kính phóng đại ta thường quan sát thấy sự phân đổi màu đặc biệt là loại saphia màu da cam phân thành các đới màu da cam, vàng, màu hồng hoặc hỗn hợp của 3 loại; loại saphia màu vàng rất giống với saphia Australia.

Một dấu hiệu đặc trưng của các đã được tổng hợp bằng phương pháp chatham là các bao thể platin. Các bao thể này có hình tam giác, lục giác, dạng thỏi hoặc hình kim rất dài… Chúng sắp xếp lộn xộn theo các hướng khác nhau dùng ánh sáng phản xạ có thể dễ dàng Quan sát thấy rõ sự phản chiếu của platin do ánh kim loại.

Một đặc điểm nữa của corindon chatham là các bao thể tàn dư của chất trợ dung có dạng vân tay, lông chim. Nhìn chung bao thể chất chọn dung trong đá chatham thường có màu trắng hoặc không màu, đục và có độ nổi cao quan sát được dễ dàng ở độ phóng đại (100 – 200x) với nguồn sáng cáp quang mạnh.

Các đá tổng hợp loại này thường có đủ các màu từ đó, da cam, vàng và xanh
Các đá tổng hợp loại này thường có đủ các màu từ đó, da cam, vàng và xanh

Một dạng bao thể khác cũng hay gặp trong corindon chatham đó là các đám mây rất nhỏ đang bụi màu trắng, điều này làm ta dễ dàng nhầm với các đám sợi li ti trong corindon tự nhiên.

Phương pháp kashan

Corindon kashan thường có màu từ hồng nhạt tới đỏ sẫm rất giống với màu của ruby tự nhiên từ Thái Lan và Miến Điện.

Không như loại hình chatham, corindon kashan không chứa các bao thể Platin mà thường chứa các bao thể chất trợ dung tàn dư (Na3AlF6) ở dạng tinh thể criolit màu trắng có độ nổi cao do có chiết suất thấp (n = 1,33). Các bao thể này thường trong mời tới đục ít khi trong suốt khi phóng đại lớn bề mặt các bao thể này thường rất thô và rất nhiều rạn. Các bao thể chất trợ dung có hình dạng giống như bao thể khí – lỏng trong corindon tự nhiên. Ở nhiều hình thù khác nhau vân tay, lông chim, đuôi ngựa, tổ chim, cờ, nếp gấp, sao chổi, túi vải,… Để phân biệt được chúng với các bao thể khí – lỏng trong đó tự nhiên cần thiết phải quan sát và độ phóng đại cao cùng với sự trợ giúp của đèn cáp quang.

Ngoài các bao thể trợ dung trong corindon kashan đôi khi cũng quan sát được đặc điểm phân đới của màu. Cũng như trong đá tự nhiên các đới của màu trong Corindon kashan nằm thẳng và song song với mặt tinh thể. Trong những viền đỏ sẫm thấy các đường hẹp rõ nét trong khi ở những viền có tông màu sáng các đường này mờ hơn.

Trong corindon kashan ta hiếm khi gặp xong tinh đa hợp nếu có thì mặt ghép song tinh chỉ xảy ra gần bề mặt viên đá. Nhiều khi ta thường nhầm chúng với các đường phân đới màu nhưng nếu dùng phương pháp đúng và xem xép dưới tâm phân cực ta sẽ phân biệt được hai dấu hiệu này.

Một yếu tố cũng có thể dùng để nhận biết corindon kashan là tính đa sắc của chúng. Tính đa sắc của Ruby và saphira hồng kashan được đặc trưng bởi màu đỏ – phớt vàng. Khi xem xét bằng đa sắc kế ở hướng vuông góc với trục C, ruby tự nhiên có màu đỏ phớt tím (tia thường) và màu đỏ – da cam (tia bất thường).

Phương pháp Ramaura

Các bao thể Ruby ramaura có các đặc điểm khác với sản phẩm của chatham và kashan. Các dung thể tàn dư là đặc điểm nổi bật với các dấu hiệu khác như phân đới màu cho những dấu hiệu quan trọng để phân biệt chúng.

Các bao thể Ruby ramaura có các đặc điểm khác với sản phẩm của chatham và kashan
Các bao thể Ruby ramaura có các đặc điểm khác với sản phẩm của chatham và kashan

Bao thể chất trợ dung trong đá ramaura được đặc trưng bởi màu sắc chúng thường có màu da cam. Ở dạng tấm mỏng chúng không màu hoặc màu trắng, có độ nổi cao, đục và cũng giống như đá kashan bề mặt bao thể thường gồ ghề và rạn nứt các tinh thể âm được lấp đầy bằng chất trợ dung thỉnh thoảng cũng cho các mặt phẳng hoặc các bậc song song theo sự phân đổi màu. Khi dùng ánh sáng chiếu điện ta sẽ thấy hiện tượng ngũ sắc trên các bạc này. Hơn nữa dạng vân tay của chất trợ dung thường có dạng phóng xạ từ trung tâm hay dạng “sao chổi” cũng hay gặp.

Corindon ramaura thường chứa các đặc điểm sinh trưởng bao gồm các đớii màu trắng chạy song song với mặt tinh thể và gặp nhau ở góc. Các dải này hẹp hơn và đều hơn trong corindon tự nhiên và giống như các đường trong Ruby Vernueil.

Phương pháp Knischka

Thường quan sát thấy các bao thể ký có kích thước lớn và thường là bao thể 2 pha có độ nổi thấp ở các dạng khác nhau hay ở dạng tinh thể âm. Bên cạnh các tinh thể âm Ruby Knischka thường chứa các đám mây “dạng ma” không rõ bản chất các đám mây này phần nào giống với các đám mây dạng bụi trong ruby Miến Điện hay đá chatham.

Trong Ruby knischka cũng chứa các que platin nhưng thường nhỏ hơn trong đá chatham.

Về màu sắc Rubyknischka giống với màu ruby tự nhiên của Miến Điện hơn là của Thái Lan nhiều khi cũng quan sát được các đới màu thẳng hoặc uốn cong.

Phương pháp Lechleitner

Loại này thường dùng các mầm tinh thể của Ruby Vernueil hay ruby tự nhiên.

Loại này thường dùng các mầm tinh thể của Ruby Vernueil hay ruby tự nhiên
Loại này thường dùng các mầm tinh thể của Ruby Vernueil hay ruby tự nhiên

Khi dùng mầm tinh thể Ruby Verneuil chúng thường có các màu sắc khác nhau gồm: đỏ, hồng, da cam, lam càng, lục hay không màu. Khi quan sát dưới kính các bao thể thường đặc trưng cho cả hai loại: bao thể chất trợ dung và bao thể Vernueil. Các đường sinh trưởng cũng như bọt khí.

Khi dùng mầm tinh thể là ruby tự nhiên: ta quan sát thấy các đường sinh trưởng bao lên mầm corindon tự nhiên.

Công ty cổ phần Trang sức và Đá quý Việt nam là một trong những công ty hàng đầu cả nước về thiết kế, chế tác về đá quý và trang sức. Nếu có mong muốn tư vấn thiết kế sản phẩm trang sức, đá quý mang tính “cá nhân hóa và gắn liền với câu chuyện của bản thân”,  Quý khách vui lòng đăng ký trực tiếp trên website để được phục vụ tốt nhất.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY. Ngoài ra, nếu Quý khách cần hỗ trợ luôn, vui lòng nhắn tin tại TẠI ĐÂY (24/24).

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *