Những thông tin chi tiết nhất về Granat

Những thông tin chi tiết nhất về Granat

Khái quát chung 

Tên granat xuất phát từ chữ La tinh granatum có nghĩa là “ dạng hạt”. Pyrop chữ Hy Lạp có nghĩa là “giống như lửa” vì pyrop có màu đỏ sẫm.

  • Anmandin theo tên của vùng Alabada của Ấn Độ.
  • Spexactin do địa điểm Spessart ở Baravi.
  • Grozule lấy tên theo một thứ quả vì nó có màu lục.
  • Andradit do tên nhà khoáng vật học Bồ Đào Nha Andrada mô tả lần đầu tiên năm 1800.
  • Uvarovit lấy theo tên của Bộ trưởng Uvarop được tìm thấy ở Ural.
Granat xuất phát từ chữ La tinh granatum có nghĩa là “ dạng hạt”
Granat xuất phát từ chữ La tinh granatum có nghĩa là “ dạng hạt”

Thành phần hóa học và cấu trúc tinh thể

Thành phần hóa học

Nhóm granat bao gồm những khoáng vật có công thức chung A3B2[SiO4]3 trong đó:

A = Mg, Fe2+, Mn2+, Ca và

B = Al, Fe3+, Cr3+

Có hai loạt đồng hình:

Loạt anmandin          (Mg, Fe, Mn)3Al2[SiO4]3

Pyrop:            Mg3Al2[SiO4]3

Anmandin:     Fe3Al2[SiO4]3

Spexactin:     Mn3Al2[SiO4]3

Loạt andradit:             Ca3(Al, Fe, Cr)2[SiO4]3

Grozule:         Ca3Al2[SiO4]3

Andradit:         Ca3Fe2[SiO4]3

Uvarovit:         Ca3Cr2[SiO4]3

Trong thành phần của granat đôi khi còn lẫn K2O, Na2O, cả P2O5, V2O5, ZrO2, BeO, …

Cấu trúc tinh thể

  • Tinh hệ: lập phương
  • Dạng tinh thể: Phổ biến nhất là các hình tá điện thoi [110] có khi kết hợp với dạng tam bát diện tứ diện (hình 2), cũng có thể có hình tam bát diện độc lập. Các mặt đều có sọc song song với đường chéo góc dài.

Các tính chất vật lý và quang học 

Các tính chất vật lí

Các tính chất vật lí của các khoáng vật trong nhóm granat được cho theo bảng dưới đây:

Các tính chất vật lí của các khoáng vật trong nhóm Granat
Các tính chất vật lí của các khoáng vật trong nhóm Granat

Tính chất quang học

  • Chiết suất, độ tán sắc : Bảng trên
  • Màu sắc: granat có nhiều màu, thứ không màu rất hiếm, các màu chính cho ở bảng trên.
  • Ánh: mỡ, thủy tinh, đôi khi gần ánh kim cương.
  • Tính phát quang: Không
  • Phổ hấp thụ: Tùy thuộc vào từng biến thể mà có phổ hấp thụ khác nhau.

Pyrop : 6870, 6850, 6710, 6500, 6200, 5200, 5050

Anmandin: 6170, 5760, 5260, 5050, 4760, 4620, 4380, 4280, 4040, 3930

Spexactin: 4950, 4845, 4810, 4750, 4620, 4350, 4320, 4240, 4120

Grosole: 6300

Demantoit: 7010, 6930, 6400, 6220, 4850, 4640, 4430

  • Các hiệu ứng quang học đặc biệt: Một số biến thể của granat (anmandin) có chứa các bao thể dạng kim que và tạo lên hiệu ứng sao khá đẹp khi mài cabonson và sao trong granat thường là sao 4 cánh.

Đặc điểm bao thể

Tùy thuộc vào điều kiện thành tạo mà trong các khoáng vật của nhóm granat ta có thể gặp các bao thể khác nhau. Trong anmandin ta thường gặp các bao thể apatit và rutin, trong demantoit ta thường gặp các bao thể sợi actinolit, trong hessonit hay gặp apatit và canxi, trong umbalit gặp apatit, rutin, pirit và zircon.

Trong granat của Việt Nam thường gặp các bao thể rutin dạng tinh thể và dạng kim que, các bao thể flogopit, apatit, zircon với riềm phóng xạ…

Nguồn gốc phân bố

Nguồn gốc

Chúng hình thành chủ yếu trong các đới biến chất tiếp xúc trao đổi phát sinh
Chúng hình thành chủ yếu trong các đới biến chất tiếp xúc trao đổi phát sinh

Granat được hình thành chủ yếu trong các đới biến chất tiếp xúc trao đổi phát sinh do tác dụng của các macma axit với đá cacbonat ở điều kiện nhiệt độ tương đối cao. Thường thấy những khối đặc xít hoặc là thành phần của các skarn

Với những khoáng vật silicat vôi như diopxit, epidot, hedenbecgit… Ngoài ta còn gặp granat trong granit, pecmatit, kimbeclit.

  • Pyrop: Thường liên quan tới các đá siêu bazơ như peridotit, kimbeclit và các sản phẩm biến đổi của chúng.
  • Spexactin: Thường gặp trong đá quý granit pecmatit hoặc các đá giàu silic.
  • Andradit: Thường hình thành trong các đới biến đổi chất tiếp xúc đặc biệt là tiếp xúc giữa macma bazơ giàu Fe với đá hoa.
  • Grozule: Đặc trưng cho cả quá trình biến đổi nhiệt và biến đổi chất trong khu vực.
  • Anmadin: thường là sản phẩm của quá trình biến chất nhiệt.
  • Uvarovit: Thường gặp trong các thân skarn.

Đặc điểm phân bố

Ở việt nam grozule thấy trong đá vôi kết tinh ở Than Mọi (Lạng Sơn), Trọng Lộc (Quảng Nam).

  • Andradit gặp nhiều trong đá vôi tiếp xúc ở Tĩnh Túc, Thái Nguyên, Thanh Mọi, Phong thổ.
  • Anmandit thấy ở Lào Cai, trong pecmatic và trong phiến kết tinh ở Yên Bái.
  • Granat có giá trị trang sức trên thế giới chủ yếu được khai thác ở Sri Lanka, Ấn Độ, Madagasca, Brazil, Alaska và Băng đảo.
  • Pyrop thường gặp trong các ống nổ của các vùng Kmbecley, De Beers, ít hơn ta gặp ta gặp ở Azizona, New Mexico, Zimbabwe, Braxin, Úc…
  • Spexactin gặp ở  Sri Lanka, Madagasca, Braxin và một số lượng nhỏ từ San Diego, California.
  • Grozule và Tsavỏit gặp chủ yếu ở Kenya và Tanzania.
  • Demantoit và Uvarovit được phát hiện ở các vùng núi Ural và một số khu vực khác ở Hymalaya.

Mài cắt

Granat trong suốt có thể được mài cắt ở các dạng khác nhau: kiểu kim cương (brilliant cut), kiểu bậc (step cut), hay kiểu hỗn hợp (mixed cut). Đối với anmandin hay pyrop nếu có tông màu quá tối người ta thường mài ở dạng cacboson trống đáy (hollowed cabochon). Dạng caboson cũng có thể dùng cho loại grozule có màu lục bán trong.

Granat trong suốt có thể được mài cắt ở các dạng khác nhau
Granat trong suốt có thể được mài cắt ở các dạng khác nhau

Với loại tsavorit có màu lục tối người ta thường mài kiểu emơrot hoặc kiểu gối cổ (antique cushion) và khi có tông màu sáng hơn người ta lại mài ở kiểu oval hỗn hợp.

Các loại đá giả và phương pháp nhận biết 

  • Anmandin: anmandin có màu đỏ rất dễ nhầm với ruby kể cả ruby tổng hợp và đôi khi cũng nhầm với thủy tinh màu đỏ. Tuy nhiên có thể dễ dàng phân biệt với ruby bởi tính dị hướng, bên cạnh đó ruby thường phát huỳnh quang mạnh hơn dưới tia cực tím sóng dài còn anmandin thì không. Phân biệt với rubelit bởi tính lưỡng chiết và đa sắc.
  • Pyrop : Người ta rất dễ nhầm pyrop với spinen bởi chúng có màu sắc và một số thuộc tính gần trùng nhau.

Dấu hiệu để phân biệt có ý nghĩa nhất là giá trị chiết suất của chúng. Pyrop thường có chiết suất > 1,73 trong khi đó spinen có giá trị chiết suất < 1,72.

Dấu hiệu thứ hai có thể căn cứ vào là đặc điểm bao thể. Trong spinen thường chứa các bao thể dạng 8 mặt tự hình trong khi đó pyrop thường chứa các  bao thể dạng hạt  tồn cạnh có độ nổi thấp và bao thể dạng kim.

Đôi khi ta cũng hay nhầm pyrop với những viên ruby có màu tối khi đó bằng việc xem xét tính đẳng hướng, dị hướng quang học và đặc tính phát quang ta dễ dàng phân biệt chúng (cần chú ý một điều pyrop nhiều khi cũng có hiệu ứng giả dị hướng). Bên cạnh đó cũng có thể dùng tính đa sắc để phân biệt pyrop không trở thành đỏ sáng dưới ánh sáng mạnh,

Trước kia khi giá của pyrop còn cao chúng được làm giả bằng thủy tinh, nhưng cũng dễ phân biệt bởi thủy tinh có độ cứng thấp hơn. Pyrop không được tổng hợp trong công nghiệp.

  • Spexactin: Với giá trị chiết suất cao spexactin rất dễ nhầm với zircon và một số loại granat khác, tuy nhiên có thể căn cứ vào tính đẳng,dị hướng và phân biệt với zircon căn cứ vào giá trị chiết xuất, tỉ trọng, phổ hấp thụ để  phân biệt với các loại granat khác. Giá trị của spexactin cao hơn pyrop và anmandin chút ít và ngang với giá của rhodolit Không được làm giả và cũng không được sản xuất trong công  nghiệp
Các loại đá giả và phương pháp nhận biết 
Các loại đá giả và phương pháp nhận biết
  • Grozule: Dễ nhầm với topaz tuy nhiên topaz có giá thấp hơn, cũng có thể căn cứ vào đặc điểm bao thể để phân biệt chúng, grozule thường chứa các bao thể dạng năng trụ tròn cạnh còn topaz thì hầu như không thấy. Dựa vào ánh để phân biệt với citrin, phân biệt với zircon bởi tính lưỡng chiết. Groluze có giá trị tương tự như anmandin và pyrop và cũng không bị làm giả và tổng hợp trong tự nhiên.
  • Andradit : Loại demantoit có ánh và giá trị lưỡng chiết gần đạt tới giá trị của kim cương. Tuy nhiên dấu hiệu đặc trưng của demantoit là những bao thể dạng sợi sắp xếp tỏa tia bên trong viên đá. Demantoit phân biệt với zircon màu lục, peridot, emơrôt, tuamalin màu lục bởi tính đẳng hướng, dị hướng quang học.
  • Rhodolit: Rhodolit rất dễ nhầm với ruby nhưng phân biệt chúng bởi tính phát quang và tính đa sắc, cũng phân biệt với rubelit bởi tính đa sắc và ánh. Phân biệt với spinen bởi các tính chất vật lí và đặc tính phát quang. Rhodolit có chiết suất 1,755 – 1,765 và tỷ trọng 3,74 – 3,94 cao hơn spinen.

Công ty cổ phần Trang sức và Đá quý Việt nam là một trong những công ty hàng đầu cả nước về thiết kế, chế tác về đá quý và trang sức. Nếu có mong muốn tư vấn thiết kế sản phẩm trang sức, đá quý mang tính “cá nhân hóa và gắn liền với câu chuyện của bản thân”,  Quý khách vui lòng đăng ký trực tiếp trên website để được phục vụ tốt nhất.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY. Ngoài ra, nếu Quý khách cần hỗ trợ luôn, vui lòng nhắn tin tại TẠI ĐÂY (24/24).

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *